|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Chương I THỜI KỲ THUỘC PHÁP (1902 - 1945) |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
HOÀN
CẢNH RA ĐỜI Năm 1885, tướng Pháp Bégin trong một dịp ghé qua Pondichéry (nhượng địa của Pháp tại ấn Độ, mãi 1956 mới trao trả) đã tới thăm trường Y khoa được thành lập từ năm 1863 ở đây. Năm 1886, khi trở thành quyền thống đốc Nam Kỳ, viên tướng này đã có ý tưởng thành lập một trường tương tự tại Sài Gòn. Không hiểu sao việc này không được triển khai tiếp và 12 năm trôi qua.
Một trường Y khi đó, dù mới sơ khai, cũng vẫn là đại diện duy nhất cho nền giáo dục đại học và cao đẳng của phương Tây ở Đông Dương. Nhưng tại sao lại là Y mà không phải các trường khác, có lẽ chính vì Y là ngành tân học dễ được chấp nhận nhất vì nhân đạo nhất. Sau này, khi đã bãi bỏ nho học, trường Y sẽ là con đường tiến thân của thanh niên, vẫn thoả mãn được mộng làm quan của nhiều người và vẫn đạt được những bằng cấp danh giá tương đương như cử nhân, tiến sĩ của chế độ trước. Theo ý nghĩa đó, trường Y sẽ là kế tục xứng đáng của Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của đất nước ta. Cuối cùng, Hà Nội được chọn làm địa điểm thành lập trường vì trước hết, Hà Nội là đất thánh của giới sĩ phu Việt Nam, là cái nôi của nền giáo dục Hán học và tiêu biểu nhất cho cái xứ Đông Dương thuộc Pháp. Biên bản phiên họp thường kỳ năm 1898 của Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương (do Doumer thành lập) còn nói: "Bắc Kỳ không chỉ cho phép nghiên cứu các bệnh của vùng nhiệt đới Viễn Đông mà còn cả các bệnh riêng cho mùa lạnh. Hơn nữa, Bắc Kỳ tiếp giáp với Trung Hoa là nơi mà ảnh hưởng của nền Y học chúng ta đang ngày càng tăng cường. Đó là sự xâm nhập hữu hiệu nhất và cũng vinh dự nhất (nhấn mạnh của Henri Galliard, trong bài Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - (Henri Galliard: Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - Kỷ yếu trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương, Hà Nội.- Tập 9.- 1944, tr 1). Người ta lo đi tìm một hiệu trưởng cho trường Y tương lai. Những tài liệu lưu trữ cho thấy có nhiều người được giới thiệu. Brouardel, hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Paris đề nghị năm người, trên hết là hai cựu nội trú đã qua thi tuyển sang Đông Dương là Degorce và Le Roy des Barres nhưng bộ trưởng bộ Thuộc địa Decrais phản đối: hiệu trưởng phải không được quá trẻ mà phải là người có đủ uy tín để đảm đương được nhiệm vụ. Do đó, toàn quyền Doumer đã chọn nhà khoa học gốc Thụy Sĩ 39 tuổi, học trò của Louis Pasteur, là Alexandre Yersin, khi đó đang làm giám đốc viện Pasteur Nha Trang. Alexandre Yersin là người đã tìm ra vi khuẩn dịch hạch trong một đại dịch tại Hồng Kông năm 1894. (Chú thích) Những sách giáo khoa cơ bản của Nho học, gồm: Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học (Tứ Thư), Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu (Ngũ Kinh)
Ngày 8.1.1902, quyết định bổ nhiệm Yersin làm hiệu trưởng được ký cùng với Nghị định sau đây 6:
Ngay ở đây, ta đã có thể thấy sự khác biệt về quan điểm giữa một nhà khoa học chân chính và một viên quan cai trị, dù sau này trở thành chính khác lớn: Yersin muốn có một cơ sở khoa học theo đúng nghĩa nhưng Doumer có lẽ chỉ muốn để lại một dấu ấn của mình, cùng với cầu Long Biên và đường xe lửa Hà Nội - Vân Nam. Những việc đã làm chứng tỏ ông ta chỉ toàn tâm, toàn ý lo củng cố sự thống trị thực dân và đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Nhiều tài liệu đã cho biết Đông Dương là thuộc địa đóng góp nhiều nhất cho mẫu quốc trong hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp, trong đó chắc Doumer góp công đầu. NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA THỜI KỲ ĐẦU Kỳ thi tuyển đầu tiên vào trường Y khoa Hà Nội có 121 thí sinh Bắc Kỳ. Ngày đó, tiêu chuẩn cao nhất là biết ít nhiều tiếng Pháp. Hệ thống giáo dục phổ thông chưa được tổ chức (mãi năm 1907 mới thành lập trường Trung học Bảo Hộ, tức trường Bưởi). Theo kết quả công bố ngày 1.2.1902, có 15 người trúng tuyển, trong đó có 7 thí sinh người Hà Nội, tất cả đều đạt loại Xuất sắc (très bien), gồm các vị 7:
Trường khai giảng ngày 1 tháng Ba 1902. Thời gian học cho tới kỳ nghỉ hè 1902 thật ra là để hoàn thành chương trình dự bị trước khi khai giảng chính thức năm học vào tháng Mười. Các môn học gồm có: - Giải phẫu và sinh lý học đại cương - Động vật học, Thực vật học, Hoá học và Vật lý học đại cương - Số học và Hình học - Tiếng Pháp, Lịch sử và Địa lý đại cương. Trong thời gian này, hiệu trưởng yêu cầu hai bác sỹ Le Roy des Barres và Degorce hoàn thành luận án tốt nghiệp tại Paris (hai bác sĩ này đã phải qua một kỳ thi tuyển sang Đông Dương). Khung cán bộ trong năm đầu tiên gồm 8 vị: Yersin, hiệu trưởng Degorce và Le Roy des Barres: giảng dạy lâm sàng Bertin Capus, bác sĩ trưởng hạng nhất: giảng dạy giải phẫu Jacquet, giám đốc sở Nông Nghiệp: giảng dạy thực vật học Duveigne, dược sĩ trưởng: giảng dạy Hoá học Gallois, thư ký: giảng dạy Lịch sử, Địa lý, Toán học, Hoá học và Vật lý học cơ bản Lê Văn Chinh, phụ giảng và phiên dịch (thầy Chinh, năm 1905, được sang Pháp thi bác sĩ y khoa) Như vậy có tới 6 vị có học vị bác sĩ (theo cách gọi thời đó, thực chất là tiến sĩ) và 1 vị có học vị cử nhân để giảng dạy 29 học sinh mới chỉ võ vẽ tiếng Pháp và chút ít kiến thức về toán pháp và cách trí (tên gọi các môn khoa học thường thức ngày ấy). Không kể học sinh Nam Kỳ, học sinh Bắc Kỳ chắc còn phải giỏi Hán văn vì những năm đó, nhiều người trong số họ có thể đang chuẩn bị thi Hương thì bỏ sang cầm bút sắt. Ngoài ra để đi thi Hương những khoá cuối cùng, họ cũng sẽ phải thi môn toán pháp và cách trí. Nếu đây là một lớp nho sinh thì chắc không bao giờ có một số đông đến thế các vị khoa bảng cùng giảng dạy trong một khoá học.
Học sinh ngay từ năm thứ nhất đã đi thực tập tất cả các buổi sáng, từ 7 đến 9 giờ, tại bệnh viện thực hành của nhà trường (được xây dựng cách trường 200 mét, thời gian đầu có 5 phòng, 40 giường, 4 y tá nam, 2 y tá nữ và 6 y công), buổi chiều lên lớp lý thuyết. Chiều thứ Năm hàng tuần có kiểm tra viết, thứ Bảy có thêm kiểm tra vấn đáp. Đã có nhiều ý kiến trong giới cầm quyền thực dân phản đối chương trình học của trường, cho rằng các môn cơ bản (lịch sử, địa lý, địa chất, thiên văn, khí tượng) chỉ là kiến thức chết, làm học sinh không tập trung được cho các môn y học. Câu trả lời của Yersin mang tính nhân văn sâu sắc: "Đó chỉ là chương trình tạm thời, có thể thay đổi khi chúng ta có thêm kinh nghiệm. Chúng tôi cho rằng dạy học sinh một số kiến thức về phương Tây là cần thiết vì y học hiện đại có nguồn gốc từ phương Tây. Giả sử ngược lại, y học hiện đại có nguồn gốc từ Trung Hoa thì chúng ta sẽ phải dạy cho sinh viên châu Âu các kiến thức về Trung Hoa... Quả thật là các thầy thuốc do nhà trường đào tạo sẽ chỉ hành nghề chủ yếu ở đất nước họ, nhưng đó không phải lý do để chỉ dạy họ những môn thuần túy y học, nghĩa là chỉ muốn họ trở thành các thầy thuốc tồi" (Yersin: Thư gửi toàn quyền Đông Dương ngày 20.8.1902). Rõ ràng chương trình học nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết và thực hành cần thiết cho học sinh trong điều kiện hệ thống giáo dục phổ thông chưa hình thành. Kết quả các kỳ thi kiểm tra tháng Sáu rất tốt, 15 học sinh đạt điểm trung bình 6/10, chứng tỏ họ có khả năng tiếp thu những môn học mới mẻ và đa dạng của chương trình
Nghị định ngày 28.7.1902 bổ sung đầy đủ hơn về các qui chế học tập, chương trình và thời gian các học kỳ (nghỉ Tết trong suốt tháng 2 và nghỉ hè từ 16 tháng 6 đến 15 tháng 9). Sau khi tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng y sĩ và có thể dự thi để được làm nội trú bệnh viện hoặc phụ giảng (répétiteur) của trường trong 2 năm. Như vậy, chế độ thi nội trú đã được đặt ra ngay từ đầu, theo khuôn mẫu các trường đại học Y bên Pháp (vì vậy có lẽ mà khoá đầu ra trường mất những 5 năm, sau hai năm làm nội trú) Địa điểm ấp Thái Hà không thuận tiện cho việc đặt trường. Khu vực này cách trung tâm thành phố tới 5 kilômét (hồi ấy chủ yếu đi bộ), nên ít bệnh nhân; nhiều ao hồ nên bệnh sốt ráe còn hoành hành (chỉ vài tháng sau khi khai giảng, hầu hết học sinh cũng như nhân viên người Âu đã bị sốt rét). Được ít lâu, có thể là vào cuối năm 1902, trường phải dọn về một ngôi nhà ở phố Bobillot (phố Lê Thánh Tông ngày nay) còn bệnh viện thực hành thì về đầu phố Armand Rousseau (phố Lò Đúc), có hai căn nhà bằng gỗ lợp lá gồi. Theo đề nghị của học sinh, hiệu trưởng ký quyết định cho phép họ được đeo thẻ bài có khắc dòng chữ Hán "Học sinh Y khoa Đông Dương". Đây là một vinh dự rất lớn vì ngày đó, chỉ các quan Nam Triều mới được đeo thẻ bài. Đeo thẻ bài thì phải mặc Nam phục (áo dài may bằng the, đoạn, hoặc gấm, khăn xếp, dép da) để đeo vào khuy áo bên phải ngực. Mới vào học trường Y mà đã ra dáng một vị đường quan rồi. Hiệu trưởng tỏ ra rất hiểu và thông cảm với tâm lý học sinh nên mới có quyết định này. Có lẽ điều đó cũng phản ánh quan niệm của hiệu trưởng: trường sẽ đào tạo ra các trí thức cao cấp cho xã hội, không phải chỉ đơn giản là những anh y sĩ phụ việc như trong quyết định thành lập. Cuối năm 1902, Paul Doumer mãn nhiệm, rời Đông Dương về Pháp, Yersin trở nên đơn độc trước các ý kiến chỉ trích chương trình học của nhà trường. Paul Beau sang thay đã ban hành các nghị định qui định chi tiết chức năng và nhiệm vụ của trường Y Hà Nội: đổi tên trường thành trường Y khoa Đông Dương trực thuộc Toàn quyền Đông Dương, kéo dài chương trình học thành 4 năm và học sinh ra trường được cấp bằng y sĩ. Những học sinh đã tốt nghiệp trường Y Chợ Quán và các trường tương đương khác có thể vào học thẳng năm thứ Ba. Mở thêm khoa Nữ Hộ sinh và khoa Thú Y. Cho phép những người đang hành nghề đông dược được dự thính các giờ giảng.
Với cách tổ chức mới của trường Y Đông Dương trong tầm nhìn thiển cận của giới cầm quyền, Yersin kết luận "Họ (những học sinh y khoa) đã bị kết án mà không qua xét xử". Vào thời kỳ đầu, nếu chưa có học sinh có trình độ phổ thông theo yêu cầu thì trường Y cố tạo ra trình độ đó cho học sinh trong khi chờ đợi, đó là lý do mở các lớp dự bị trước khi bước vào chương trình chính thức. Trong tư tưởng của ông, trường Y Đông Dương luôn là và thực chất là một trường Đại học đang phát triển. Ngày 9.7.1904, ông rời ngôi nhà số 44 đường Félix Faure Hà Nội (nay là đường Trần Phú) ra đi mãi mãi. Viện Pasteur Nha Trang và nhiều công việc khác đang chờ ông (ông là người phát hiện ra cao nguyên Đà lạt 9năm 1983, là người đưa giống cao su và cọ dầu sang trồng ở miền nam Việt Nam từ năm 1897). Ông đã cống hiến 39 năm còn lại của cuộc đời cho mảnh đất Nha Trang mà ông yêu quí và đã vĩnh viễn an nghỉ tại Suối Dầu, Nha Trang, trong lòng nhân dân, năm 1943. Dù trước kia Pasteur đã nhận định về ông: "Đây sẽ là một nhân tài đem lại vinh quang cho nước Pháp" nhưng ông không thể ở lại Paris với tất cả những điều kiện thuận lợi sẵn có. Ông là nhà khai phá, sẵn sàng dấn thân vào những công cuộc tìm kiếm khó khăn nhất, và ông đã thành công.
Khoá đầu tiên chỉ có 5 người tốt nghiệp năm 1907 (nghĩa là sau 5 năm, lý do có thể là họ đã qua khoá nội trú 2 năm, sau khi học xong chương trình chính thức 3 năm) và được phân phối về các tỉnh. Khai giảng có 29 người, cuối năm chỉ 15 người lên lớp, kết cục còn 5, ta có thể hiểu sự chọn lọc là khắt khe và đòi hỏi cao như thế nào, từ đó có thể suy ra chất lượng của những "ông cử" mới ra trường. So với thời còn học chữ nho, thi hương tổ chức ba năm một lần cũng chỉ lấy dỗ được 20 - 25 ông cử mỗi khoá, tức là bình quân đào tạo 8 ông cử mỗi năm. Những nơi tiếp nhận thoạt tiên tỏ vẻ không tin tưởng lắm, tuy nhiên thực tế công tác đã chứng minh năng lực của những y sĩ mới ra trường này. Nhưng rồi mọi việc đã diễn biến không trôi chảy. Khi phong trào nông dân chống thuế dấy lên ở các tỉnh Trung Kỳ năm 1908, nhà cầm quyền thực dân đã đổ riệt trách nhiệm lãnh đạo cho tầng lớp sĩ phu đang chủ trương duy tân, mặc dù không hề có bằng chứng. Kẻ đang lăm le xoá bỏ cựu học, truyền bá tân học lại sợ chính cái mà mình định truyền bá vào (!). Tác giả người Mỹ, Helen B.Lamb đã nhận xét rất có lý là suốt thời kỳ thống trị Việt Nam, người Pháp luôn luôn sống trong lo sợ, đó là lý do tại sao họ luôn phải dùng những hình thức đàn áp mang tính chất khủng bố (H.B.Lamb: The Vietnam's will to live.- New York, 1972). Cũng phải thấy rằng sĩ phu nước ta đã thích ứng rất nhanh với tình hình. Từ chỗ chống đối tân học, họ đã mau chóng nhận thấy tân học chính là con đường cứu nước nên đã phát động phong trào duy tân và Đông du (chủ yếu là sang Nhật). Cơ quan hoạt động công khai của văn thân lúc đó là trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Năm 1908, toàn bộ nền giáo dục tân học mới phôi thai đã bị đàn áp. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa cùng nhiều trường khác. Đặc biệt, trường Y Đông Dương, một lần nữa lại bị giáng cấp thành trường Y khoa Hà Nội trực thuộc Thống sứ Bắc Kỳ. Khi quyền lợi thực dân bị đe doạ thì mọi lời hoa mỹ về văn minh, khai hoá biến mất tức khắc. Sắc lệnh ngày 18.3.1909 của tổng thống Pháp A. Fallière được qui định chi tiết thi hành theo nghị định ngày 6.8.1909 của toàn quyền Đông Dương A.Klobukowski, theo đó một hội đồng giáo dục (Conseil de perfectionnement) được thành lập để nghiên cứu những vấn đề hoạt động và phát triển của nhà trường, thực tế là để trực tiếp giám sát và chỉ đạo mọi hoạt động của trường. Đứng đầu hội đồng là viên Thống sứ Bắc Kỳ, ngoài ra còn có: - Viên giám đốc Nha Y Tế Bắc Kỳ, - Một viên tỉnh trưởng, - Hiệu trưởng nhà trường, - Giám đốc bệnh viện Bản xứ (tức bệnh viện thực hành), - Một giảng viên (chargé de cours), - Một thầy thuốc thuộc sở Y Tế và - Một thầy thuốc làm thư ký. Hội đồng phải họp ít nhất mỗi năm hai lần, theo triệu tập của chủ tịch, vào dịp chuẩn bị ngân sách và dịp khai trường. Ngoài ra, hầu như mọi việc (cử hiệu trưởng, chuẩn bị ngân sách, chương trình học và thi cử, lựa chọn giảng viên và mọi thay đổi trong qui chế tổ chức nhà trường...) đều bắt buộc phải hỏi ý kiến Hội đồng. Quyền hạn hiệu trưởng bị thu hẹp đến tối thiểu. Chỉ tiêu tuyển sinh cũng bị thu hẹp. Suất học bổng hàng năm được qui định là 4 suất cho người An nam, 1 suất cho người Cao miên và 1 suất cho người Lào. Tỷ lệ chiêu sinh giữa số không được học bổng/số được học bổng sẽ do Thống sứ Bắc Kỳ quyết định từng năm. Chính Nha Học Chính Đông Dương sau này, trong báo cáo giới thiệu trường Y khoa tại Triển lãm Thuộc địa tại Paris năm 1931 đã phải thừa nhận: "Dưới chính quyền mới, một giai đoạn ngừng trệ đã tác động lên toàn bộ nền giáo dục nói chung - bị chụp mũ một cách đáng tiếc là tác giả thực sự của phong trào cách mạng 1908. Cái trạng thái tinh thần đáng buồn đó, hiện vẫn chưa hoàn toàn mất đi, đã làm chậm sự phát triển của trường mất 10 năm" (Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương - Hanoi, 1931: tr 9-10). Báo cáo đó còn nói thêm: "Sắc lệnh ngày 18 tháng Ba 1909 giảm số biên chế, bãi bỏ khoa quân y coi như không cần thiết, giảm số học sinh (6 người mỗi năm) và đặt trường dưới quyền Thống sứ Bắc Kỳ. Đó là làm cho trường trở thành một trường Y tá chỉ có lợi ích địa phương, bất kể việc đã gửi sang Pháp các học sinh xuất sắc nhất của mình. Mặc dù vậy, tuy bị biến đổi trường vẫn tồn tại bởi sức mạnh của những điều hữu ích" (Sách đã dẫn, trang 10). THỜI KỲ ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN Dẫu sao, sai lầm cũng đã được ngấm ngầm thừa nhận hay nói đúng hơn, sau khi đã "hoàn hồn", thì chính hội đồng giáo dục đã nâng dần số tuyển sinh trong thời kỳ ngừng trệ đó lên 20 học sinh mỗi năm. Hệ thống giáo dục phổ thông dần dần phát triển, trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi) được thành lập năm 1907, đến nay đã có thể cung cấp lớp học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở cho nhà trường, vì vậy, tiêu chuẩn văn hoá khi tuyển sinh cũng được nâng cao dần: học sinh phải tốt nghiệp bậc Cao Đẳng Tiểu Học (tương đương lớp 9 bây giờ) trở lên mới được nhận - giống như 40 năm sau (1948-1965), các trường trung cấp của nước Việt nam độc lập cũng tuyển sinh ở trình độ này. Năm 1911, Albert Sarraut sang nhậm chức toàn quyền Đông Dương lần thứ nhất (1911-1914). Người Pháp đánh giá rất cao viên toàn quyền này, coi ông ta là người đã chấn hưng nền giáo dục Đông Dương và trường Y Đông Dương được hưởng lợi trước tiên (tên ông ta được đặt cho một trường trung học và đại lễ đường trường Đại học Hà Nội). Sắc lệnh ngày 28 tháng 6 năm 1913 của tổng thống Pháp, được qui định chi tiết thi hành trong nghị định ngày 29 tháng chạp 1913 của toàn quyền Đông Dương, đã bãi bỏ sắc lệnh 18 tháng Ba 1909, đặt lại tên trường là trường Y khoa Đông Dương trực thuộc toàn quyền Đông Dương. Bằng tốt nghiệp sẽ do Toàn quyền Đông Dương ký, bên cạnh có chữ ký của tổng Thanh tra Y tế Đông Dương và Hiệu trưởng nhà trường. Học sinh được phân công công tác theo quyết định của Toàn quyền Đông Dương. (Đây là một đặc thù của ngày đó: vì bằng tốt nghiệp là bằng quốc gia nên phải do người cao nhất, đại diện cho quốc gia ký. Mặt khác, vì trường Y Đông Dương trực thuộc phủ toàn quyền nên học sinh tốt nghiệp cũng phải do Toàn quyền trực tiếp phân công, thống sứ Bắc Kỳ không đủ quyền hạn. Ngày nay, việc công nhận tốt nghiệp và phân công là do Bộ Y Tế vì Bộ trưởng có đủ tư cách thay mặt Nhà Nước, riêng văn bằng lại do hiệu trưởng ký). Nghị định 29 tháng Chạp 1913 qui định tiêu chuẩn tuyển sinh: học sinh phải có bằng tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học (tương đương tốt nghiệp phổ thông cơ sở ngày nay) hoặc chứng chỉ tốt nghiệp trường Chasseloup-Laubat (một trường trung học nổi tiếng ở Sài Gòn) hoặc tú tài bản xứ (tương đương tốt nghiệp lớp 12 hiện nay), tuổi không quá 25 tính đến ngày 1 tháng 1 năm sau ngày nhập trường, phải có sức khoẻ tốt và lý lịch tốt. Thí sinh có bằng tú tài chính quốc 10 (baccalauréat métropolitain, thường được gọi tắt là Bacc Métro, hay Tú tài “tây”) sẽ được theo học khoa toàn cấp, sau này ra bác sĩ hoặc dược sĩ hạng nhất. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm sẽ do Toàn quyền Đông Dương quyết định (đây là một bước tiến, vì sắc lệnh 18 tháng Ba 1909 qui định do Thống sứ Bắc kỳ quyết định). Học sinh được ưu đãi hơn. Tất cả được hưởng chế độ nội trú không mất tiền (đừng nhầm với chế độ ngoại trú và nội trú của chương trình đào tạo ngành Y) và được học bổng: 5 đồng/tháng cho học sinh năm thứ nhất, 6 đồng/tháng cho năm thứ hai và 8 đồng/tháng cho hai năm cuối; ngày trực được ăn không mất tiền tại bệnh viện. Học sinh còn được miễn thuế thân và quân dịch. Ngoài ra, vào dịp nghỉ hè, học sinh được hưởng tiền tầu xe đi và về tới một địa điểm bất kỳ của Đông Dương, còn được chữa bệnh không mất tiền tại bệnh viện Bảo Hộ. Tuy nhiên, họ cũng phải ký cam kết sẽ làm cho nhà nước ít nhất 10 năm sau khi ra trường. Ai vi phạm, sẽ phải bồi hoàn phí tổn đào tạo cho Kho Bạc.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là dịp chứng tỏ phẩm chất của học sinh y khoa Đông Dương qua thực tế công tác tại các đơn vị quân đội và tại bệnh viện Đông Dương ở Marseille (Pháp). Chúng ta cũng có thể thấy vị thế của trường Y Đông Dương: mỗi lần nâng cấp, hạ cấp đều phải do tổng thống Pháp quyết định, tiêu chuẩn văn hoá để tuyển sinh cũng tăng dần theo từng bước phát triển của nền giáo dục phổ thông. Năm 1917, mười lăm năm sau khi thành lập, lần đầu tiên có học sinh tốt nghiệp tú tài nhập học. Đến khi bậc học phổ thông phát triển đầy đủ thì trường cũng trở thành một trường đại học hoàn chỉnh về qui mô và trưởng thành về chất lượng đào tạo. Đến đây, ước mơ ban đầu của Yersin đã được thực hiện Nghị định ngày 20 tháng Bảy 1914 đã đặt thêm khoa Dược học 3 năm, từ đó, trường mang tên trường Y Dược khoa Đông Dương. Việc giảng dạy do các giáo sư chính thức và các giảng viên dược sĩ dân y và quân y đảm nhiệm.
Khoa toàn cấp (đại học) Dược hoạt động theo những qui định trong các nghị định ngày 28 tháng Bảy 1909 và 30 tháng Tám 1923 của Toàn quyền Đông Dương (về tiêu chuẩn tuyển sinh và tốt nghiệp). Năm tập sự của sinh viên được tiến hành tại các cửa hàng Dược được uỷ nhiệm của Tổng giám đốc Nha Học chính Đông dương, theo đề nghị của hiệu trưởng nhà trường. Đây là những cửa hàng dược đủ tiêu chuẩn, có pha chế theo đơn của thầy thuốc. Trong trường hợp không có điều kiện thực hiện tập sự tại cửa hàng Dược thì sinh viên có thể xin tập sự ở một bệnh viện có khoa Dược do một dược sĩ người Pháp làm chủ nhiệm. Sinh viên sẽ ghi tên xin tập sự tại văn phòng nhà trường. Sau khi qua được kỳ thi kiểm tra năm tập sự, sinh viên theo học 4 năm nữa theo đúng như thể thức ở chính quốc. Các kỳ thi kiểm tra của năm tập sự, các năm thứ Nhất, thứ Hai, thứ Ba và hai kỳ kiểm tra năng lực (examens probatoires) đầu tiên được tiến hành ở Đông Dương. Kỳ thi kiểm tra năng lực thứ ba và kiểm tra năm cuối cùng được tiến hành tại Pháp, nếu qua được, sẽ nhận bằng tốt nghiệp Dược sĩ hạng nhất (đại học). Vì nền công nghiệp Dược của Đông Dương không phát triển nên số sinh viên theo học khoa Dược là rất ít, so với khoa Y. Ví dụ như trong năm học 1930 - 1931, toàn khoa Dược chỉ có 5 sinh viên. Ngày trước, tốt nghiệp Dược dược sĩ thường mở ngay hiệu thuốc để kinh doanh, hầu nhưkhông có ai học tiếp để thi tiến sĩ Dược khoa (tương đương bác sĩ Y khoa). Đến nay là chưa tìm được số liệu về Dược sĩ cao cấp đã tốt nghiệp. Bệnh viện Mắt được thành lập theo nghị định ngày 14 tháng Bảy năm 1915 của Thống sứ Bắc Kỳ và chính thức mở cửa ngày 16 tháng Tư năm 1916 ở phố Résident Miribel (nay là phố Trần Nhân Tông). Bệnh viện này được trang bị rất nghèo nàn vì theo lời phán nàn của người giám đốc đầu tiên, bác sĩ Bargy: "người ta định cho nó chết yểu", nhưng những kết quả ban đầu lại rất khích lệ (có thể hiểu điều này, vì vùng nông thôn Bắc Kỳ là ổ dịch đau mắt hột, cho tới nay vẫn chưa thanh toán triệt để được).Nghị định ngày 7 tháng Bảy 1917 nâng cấp bệnh viện Mắt Hà Nội thành Viện Nhãn khoa Đông Dương và đặt trực thuộc trường, với giám đốc là một giáo sư của trường. Kể từ ngày đó, viện này vừa hoạt động như một cơ quan của ngành Y tế điều trị miễn phí cho nhân dân, vừa là trung tâm giảng dạy nhãn khoa củatrường Y Dược khoa toàn cấp Đông Dương. Năm 1925, bệnh viện được mở rộng ra hai bên với mặt trước được xây dựng lại thành phòng khám, phía sau, thẳng góc với nó là một hành lang dẫn tới các phòng mổ và phòng học. Tại đây, các bác sĩ và y sĩ Đông Dương tương lai sẽ tiếp thu được những khái niệm rất cần thiết về nhãn khoa để hành nghề ở Đông Dương. Thoạt tiên, người ta cho 2 học sinh năm thứ Tư tách hoàn toàn cho bệnh viện Mắt với ý định cho học một chuyên khoa sâu nhưng thấy bất lợi nên lại thay bằng cho cả lớp năm thứ Tư mỗi tuần đến Viện Mắt một lần để nghe giảng lâm sàng. Sau nhiều lần thử, cuối cùng người ta chọn giải pháp cho từng tổ học sinh, bất kể là năm thứ Ba hay thứ Tư đi luân khoa trong 3 tháng. Kết quả đã được chứng minh là rất tốt. Khoa thú y được tách thành trường Thú Y độc lập. Môn Pháp Y được đưa vào từ 1919. Nghị định ngày 4 tháng Bảy 1920 tái lập khoa quân y đã bị bãi bỏ năm 1909 nhưng sau, do điều kiện quá ngặt nghèo (học sinh thi ra trường không đạt sẽ phải đăng lính 5 năm với chức vụ là y tá) nên từ 1925, không có học sinh nào ghi danh tham gia nữa. Nghị định ngày 7 tháng Giêng 1919 sáp nhập chứng chỉ Lý-Hoá-Sinh (PCN: Sciences physiques, chimiques et naturelles) vào trường Y Đông Dương giống như ở chính quốc và bằng tốt nghiệp có giá trị tương đương: đó là bước đầu tiên trong việc kiến tạo một nền giáo dục đại học của Đông Dương tương đương như chính quốc. Kể từ đây, phải có chứng chỉ PCN mới vào được đại học Y. Khi trường Cao Đẳng Khoa học được thành lập thì chứng chỉ này chuyển sang đó và tách thành PCB (Physiques-Chimie-Biologie: Lý-Hoá-Sinh) để vào học trường Y và SPCN (Sciences physiques, chimiques et naturelles: Lý-Hoá-Tự nhiên) để học trường Cao Đẳng Khoa học. Chứng chỉ PCB còn được áp dụng tại trường Y Hà Nội cho tới năm học 1954-1955. Ngoài trường Y Dược, các trường cao đẳng khác trong thành phần của Viện Đại học Đông Dương vẫn chỉ mang tính chất trường chuyên nghiệp. Mãi đến năm 1941, do tình hình chiến tranh làm Đông Dương tách rời khỏi chính quốc, các trường Luật, Khoa học rồi đến Cao đẳng Nông Lâm, Cao đẳng Công chính mới dần dần trở thành nơi đào tạo đại học, cấp bằng kỹ sư và cử nhân luật, cử nhân khoa học, nhưng không đủ thẩm quyền cấp bằng tiến sĩ như trường Y. Chứng chỉ PCNđã nâng cao trình độ cơ bản, nên nhà trường tổ chức lại theo sắc lệnh ngày 18 tháng Năm 1921. Năm học 1920-1921, học sinh tốt nghiệp tú tài phần 2 vào trường Y bắt đầu học PCN, nhưng từ năm học sau (1921-1922), sinh viên vào Y phải có chứng chỉ PCN trước đã. Đây là một bước nhảy vọt về chất lượng tuyển sinh.Năm học 1921-1922, lần đầu tiên có hai sinh viên tốt nghiệp PCN vào học là các ông Đặng Vũ Lạc và Hoàng Thụy Ba. Cả hai đã bảo vệ luận án tại Paris và tốt nghiệp năm 1927. Trường hợp ông Đặng Vũ Lạc là tiêu biểu cho lớp thanh niên chuyển từ "mực tầu, giấy bản" sang cầm bút sắt. Ông đã dự kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915 tại Nam Định vào được đến tam trườngmới quay sang tân học và thi đỗ tú tài, rồi PCN.Sau này, ông Đặng Vũ Lạc đã thành lập một bệnh viện tư nhân lớn nhất Đông Dương thời đó, (dân gian chỉ gọi bằng tên: Nhà thương Đốc tờ Lạc) lấy chỗ làm việc cho nhiều bác sĩ Việt Nam không làm cho chính quyền Bảo Hộ, trong đó có bác sĩ Phạm Hữu Chí, một người tốt nghiệp vào loại xuất sắc ở trường Y Paris nhưng không được nhận vào trường Y Hà Nội do kỳ thị dân tộc của nhà cầm quyền thực dân. Bác sĩ Phạm Hữu Chí không may mất sớm mấy năm sau đó. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc cũng mất sớm khi còn khá trẻ, riêng bác sĩ Hoàng Thụy Ba công tác tại Viện Bảo vệ Bà Mẹ - Trẻ Sơ sinh ở Hà Nội cho tới sau giải phóng miền Nam mới nghỉ hưu năm 73 tuổi và mất năm 93 tuổi. Sau hai năm chuẩn bị, trường được tổ chức lại hoàn toàn theo Sắc lệnh ngày 30 tháng Tám 1923: được nâng lên thành Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương ( école de Plein Exercice: còn gọi là Trường Kiêm Bị) giống như của chính quốc, có thêm khoa y sĩ và dược sĩ Đông Dương. Tất cả những qui chế mới này đã đưa tới việc xây dựng các bộ môn Mô học, Giải phẫu bệnh học, Phẫu thuật thực hành, Vi trùng học, Ký sinh trùng học, Sinh lý học và Y-hoá học - trước đó chưa có. Chương trình học nhờ tăng thêm phần thực tập chung ở các bộ môn kể trên của khoa y sĩ và khoa đại học khiến chất lượng y sĩ Đông Dương ngày càng sát gần chất lượng bác sĩ. Học sinh của trường, vì lý do gia đình hoặc lý do khác, có thể xin chuyển sang học tại các trường bên chính quốc hoặc Algérie, đặc biệt là những trường có khoa thuộc địa, và sinh viên các khoa y học nhiệt đới của Pháp cũng có thể chuyển sang học trường Đông Dương.
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
TRANG 2 |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Bệnh viện
thực hành được chú trọng xây dựng cùng với trường ngay từ ngày đầu ở ấp Thái
Hà. Năm 1904, bệnh viện Nhà Chung (Hôpital de la Mission) của Hội Truyền giáo
được chuyển thành Bệnh viện Bản xứ (Hôpital indigène) và sau thành bệnh viện
Bảo hộ (Hôpital du Protectorat, dân gian quen gọi là Nhà thương Phủ Doãn) là
cơ sở thực hành đa khoa của học sinh. Bệnh viện gồm hai khu, cách nhau qua
đường Borgnis-Desbordes, trước kia là đường Camps des Lettrés (phố Tràng Thi
ngày nay). Khu phía Bắc đường là khu chính, khu phía Nam là nhà Carmel cũ
(nay là khu Viện Bảo vệ Bà mẹ-Trẻ em) được sử dụng làm nơi giảng dạy nữ hộ
sinh và khoa Sản-Phụ. Ngày 1 tháng Tư năm 1904, chính quyền Bảo hộ Bắc Kỳ
chính thức mua lại nhà, đất và trang bị của Bệnh viện Bản xứ và nghị định ngày
13 tháng Mười năm 1904 tổ chức lại bệnh viện trên cơ sở mới. Các khoa lâm
sàng được đặt dưới quyền bác sĩ Cognacq, hiệu trưởng trường Y Đông Dương. Bác
sĩ Le Roy des Barres được cử làm giám đốc bệnh viện. Các giáo sư, giảng viên
và sinh viên đảm nhiệm công tác tại bệnh viện, bác sĩ Lafaurie được chỉ định
làm thường trú. Ngày đó bệnh viện có 354 bệnh nhân, mọi bệnh nhân của bệnh viện thực hành trước đây đều được chuyển sang bệnh viện Bảo Hộ. Năm 1905, trại phong Tế Trường được sáp nhập vào bệnh viện nhưng đến 1912 lại tách ra và sáp nhập vào hệ thống các trại phong. Năm 1928 xây dựng khu nhà mổ hiện đại. Theo sắc lệnh ngày 30 tháng Tám năm 1923, bệnh viện Bảo Hộ trở thành bệnh viện thực hành của trường Y nên chức vụ giám đốc bắt buộc phải do một giáo sư của trường đảm nhiệm, mặt khác, theo nghị định ngày 17 tháng Chạp năm 1923, về mặt hành chính, bệnh viện Bảo hộ vẫn là bệnh viện chính của Nha Y Tế Bẵc Kỳ. Bệnh viện Bảo hộ khi đó gồm có các khoa: Khoa Ngoại (nam và nữ) Khoa Sản-phụ (khu nhà Carmel cũ, ở bên kia đường) Khoa Nội (nam và nữ) Khoa Nội Nhi Khoa bệnh ngoài da và Hoa liễu Khoa bệnh Tâm thần Khoa Ung thư Khoa dành cho phạm nhân Khoa điện quang và điện trị liệu Labô vi sinh Khoa Dược và labô hoá sinh Khoa Khám bệnh đa khoa Bệnh viện Bảo hộ sau này đã dần dần chuyển thành chuyên ngoại khoa. Tổng số giường bệnh cho đến năm 1931: Bệnh viện Bảo hộ: 583 giường Khu Nhà Carmel cũ: 50 giường Khu cách ly Cống Vọng: 134 giường Viện Mắt và bệnh viện tâm thần Vôi (Bắc Giang) cũng được đặt trực thuộc trường. Khu cách ly (lazaret) Cống Vọng 13 đến năm 1932 mở rộng dần thêm thành bệnh viện René Robin, hoàn chỉnh vào khoảng năm 1940-1941 (bệnh viện Bạch Mai hiện nay). Dân gian chỉ gọi bằng một tên đơn giản: Nhà thương Cống Vọng. Vào những năm 1940, đường Thuộc địa số 1 (RC1, tức đường Giải phóng ngày nay) xuống Nhà thương Cống Vọng qua ô Đồng Lầm chỉ thuộc loại "thênh thang tám thước", hai bên là ruộng lúa và đoạn qua công viên Lênin hiện nay là hồ sen Bảy Mẫu, đầu mùa hạ đi qua có thể ngửi hương sen ngào ngạt, nhưng bệnh viện đã có kiến trúc hiện đại, thanh thoát, khác với kiểu “nhà thuộc địa” của nhà thương Bảo Hộ và khu cách ly Bạch Mai. Khu nhà tròn đang được xây dựng thành khu phẫu thuật thì phải bỏ dở vì chiến tranh thế giới thứ hai đã gần kề. Tuyến đường xe điện Yên phụ - Kim Liên có điểm kết thúc ngay trước cổng bệnh viện, rất tiện cho bệnh nhân trong thành phố xuống. Như vậy, truyền thống xây dựng bệnh viện thực hành cho trường Y đã được bắt nguồn ngay từ 1902 và duy trì liên tục qua kháng chiến chống Pháp, ngay trong những điều kiện rất gian khổ và thiếu thốn. Đáng tiếc là quyền có bệnh thực hành riêng của trường đã bị một quyết định năm 1955 của bộ Y Tế tước bỏ bằng cách đặt các bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức trở thành trực thuộc Bộ. Hệ thống đào tạo nội trú, một đặc thù của ngành Y (hầu như trên toàn thế giới) trong rèn luyện tay nghề thực hành cho thầy thuốc, được đưa vào ngay từ những ngày đầu thành lập trường, cũng đã bị bãi bỏ một thời gian và rồi khi quay trở lại vẫn không được chính thức thừa nhận và lăm le bị thay thế bằng hệ đào tạo cao học nặng về lý thuyết như ở các ngành khác. Cố Hiệu trưởng Nguyễn Trinh Cơ đã bỏ bao tâm huyết để tái xây dựng ngành đào tạo nội trú và bệnh viện thực hành, có lẽ vì các giáo sư trường Y hiểu hơn ai hết giá trị của ngành học này. Thời đó, bác sĩ được gọi, “đốc tờ” hay "quan đốc", thậm chí là "cụ", y tá được gọi là "thầy" và y tá cũng gọi sinh viên là "thầy" nhưng không phải với nghĩa ngày nay. Tiếng "thầy" được dùng để chỉ các viên chức cấp thấp (thầy thư ký, thầy thông, thầy đề). Riêng y công bị gọi một cách rất khinh miệt là "cu li san" (coolie des salles = lao công các phòng).
1. Một khoa chuẩn bị thi chứng chỉ Lý-Hóa-Vạn Vật (PCN). 2. Một khoa Y toàn cấp 3. Một khoa Dược toàn cấp 4. Một khoa Y sĩ Đông Dương 5. Một khoa Dược sĩ Đông Dương 6. Một khoa cho người châu á 7. Một khoa nữ hộ sinh bản xứ. Nghị định ngày 22 tháng Tư 1924 của toàn quyền Đông Dương M.Merlin đã qui định các chi tiết thi hành Nghị định ngày 30 tháng Tám 1923 về việc cải tổ lại trường Y Đông Dương. Lần đầu tiên, một hội đồng giáo sư được thành lập để tư vấn cho hiệu trưởng về những vấn đề tổ chức giảng dạy và qui chế kỷ luật. Hội đồng gồm các giáo sư chính thức và hai giảng viên do Giám đốc Nha Học Chính chỉ định vào đầu mỗi năm học. Một thư ký phụ tá hiệu trưởng (đúng ra phải gọi là chánh văn phòng, tương đương như phó hiệu trưởng thường trực hiện nay) được chọn trong số giáo sư chính thức với nhiệm kỳ 5 năm theo quyết định của Toàn quyền và do Giám đốc Nha Học Chính giới thiệu sau khi đã tham khảo ý kiến hiệu trưởng. Thư ký sẽ phụ trách công tác hành chính và tổ chức, giám sát và kỷ luật đối với sinh viên, phụ trách công tác bệnh viện theo chỉ định của hiệu trưởng. Thư ký lĩnh lương theo cấp bậc và được thu xếp nơi ở trong trường (theo giáo sư Vũ Công Hoè, trường còn cơ sở phố Tràng Tiền - hiện nay thuộc chỗ cửa hàng Bôđêga - là nơi ở cho một số giáo sư và cả sinh viên). Ban thư ký còn gồm hai thư ký người bản xứ biệt phái từ Nha Học Chính Đông Dương, một trong hai người kiêm phụ trách thư viện và được hưởng thêm phụ cấp đồng niên về việc này là 120 đồng. Nghị định 22 tháng Tư 1924 khẳng định lại nhiệm vụ của trường đào tạo các đối tượng, gồm: 1. Bác sĩ y khoa và dược sĩ hạng nhất theo nghị định 30 tháng Tám 1923 2. Y sĩ và Dược sĩ Đông Dương 3. Y sĩ Quân Y 4. Y sĩ Trung Hoa 5. Nữ hộ sinh Đông Dương. Y sĩ Đông Dương khoá cuối cùng ra trường năm 1934 (theo giáo sư Vũ Công Hoè. Cũng theo giáo sư, không có chênh lệch đáng kể về trình độ giữa bác sĩ và y sĩ Đông Dương). Sau này phần lớn y sĩ Đông Dương đã thi lấy bằng tú tài “tây” và dành ra 2 năm để bổ túc một số môn và làm luận án tốt nghiệp bác sĩ Y khoa. Lớp y sĩ cuối cùng ra trường năm 1934 vào trường và cùng học với giáo sư Vũ Công Hoè (giáo sư Hoè ra trường năm 1937, bác sĩ Trương Cam Cống học trên giáo sư Hoè 4 lớp và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch học trên giáo sư Hòe 3 lớp và là khoá cuối cùng phải sang Pháp làm luận án). Số y sĩ được đào tạo từ trường Y Đông Dương kể từ khoá ra trường đầu tiên năm 1907 đến khoá năm 1930 là 294 người (chưa có số liệu ra trường các năm từ 1931 đến 1934). Nghị định cũng qui định chi tiết chương trình học, số giờ mỗi tuần của một môn và qui định chương trình thi tốt nghiệp. Trong bước đầu đặt hệ nội trú, nghị định có qui định tuyển chọn hàng năm 4 sinh viên làm trợ lý giải phẫu, sinh lý, mô-giải phẫu bệnh học và dược học. Trợ lý giải phẫu được phụ cấp hàng tháng 15 đồng, các trợ lý khác được 10 đồng. Hàng năm tổ chức thi tuyển trong số sinh viên năm thứ 3 và 4 (chung cho mọi chuyên khoa) lấy 3 trưởng phòng của bệnh viện Bảo Hộ (2 phòng ngoại khoa và 1 phòng nội khoa). Các sinh viên được chỉ định có trách nhiệm làm bệnh án và thực hiện điều trị, ngoài ra còn hướng dẫn lâm sàng cho sinh viên lớp dưới và được hưởng phụ cấp mỗi tháng 10 đồng.
Nghị định cũng qui định phụ cấp giảng dạy cho những giảng viên không hưởng lương giáo sư, hay phụ giảng chính thức, là 8 đồng cho một giờ lý thuyết và 6 đồng cho một buổi thực tập 2 giờ. Đến giai đoạn này, sinh viên năm thứ nhất khoa đại học không hưởng học bổng mà phải đóng lệ phí mỗi học kỳ 3 tháng là 19 đồng, gồm cả tiền thư viện 1 đồng và tiền thực tập 6 đồng. Như vậy hàng năm mất 76 đồng, cộng thêm 26 đồng tiền lệ phí thi, thành 102 đồng, những năm sau là 98 đồng. Năm cuối cùng sang Pháp bảo vệ luận án phải đóng tiền thi 165 francs, luận án và văn bằng 240 francs, cộng 405 francs (thời đó 1 đồng Đông Dương ăn 8,25 francs, như vậy mất khoảng 50 đồng Đông Dương nữa). Thư viện thời kỳ này được gộp chung với thư viện Viện Đại học trong một phòng rộng, đối diện Đại Giảng đường, tới cuối những năm 1950 mới tách riêng thành Thư viện Đại học Y Dược. Sau khi tách riêng hai trường (Y và Dược) năm 1962, thư viện Đại học Y được tổ chức thành hai đơn vị riêng biệt là Viện Thông tin-Thư viện Y học Trung ương và thư viện Đại học Y Hà Nội. Trước năm 1935, sinh viên chỉ học hết năm thứ Tư thì sang Pháp thi nốt năm thứ Năm và bảo vệ luận án tốt nghiệp. Từ 1935 trở đi, khi giáo sư thạc sĩ Henri Galliard, giáo sư trường Đại học Y khoa Paris sang nhậm chức hiệu trưởng, các giáo sư bắt buộc phải có bằng thạc sĩ nên các chủ nhiệm khoa người Pháp lần lượt thay nhau về Paris thi thạc sĩ và cũng từ đó, trường Paris hàng năm cử một giáo sư sang chủ trì luận án. Các giáo sư từ Paris sang chủ trì việc bảo vệ luận án, như giáo sư Lemaitre, đã gọi trường Y Đông Dương là "cái ăng ten của nền khoa học Pháp tại Viễn Đông", đánh giá rất cao trình độ và khả năng của sinh viên trường Đông Dương, coi tương đương như tốt nghiệp từ trường Paris. Số bác sĩ sang Pháp làm luận án, kể từ khoá đầu 1921-1927 tới khoá 1928-1934 là 42 người. Khoá 1929-1935 trở đi bắt đầu bảo vệ luận án tại Hà Nội. Từ năm 1935 đến khoa thi cuối cùng của trường Đông Dương năm 1945, đã có tổng số 147 luận án được bảo vệ chính thức (không kể một số nội trú không kịp làm luận án, như Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Thế Khánh, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Hữu, Phạm Biểu Tâm và nhiều người khác). Người ta thấy rõ từng bước trưởng thành của trường Y Đông Dương, từ lúc chỉ đào tạo được y sĩ, rồi đào tạo bác sĩ thiếu năm cuối, phải sang Pháp thi tốt nghiệp, cho tới khi đào tạo hoàn chỉnh học vị bác sĩ tại Hà Nội. Mười sáu năm kể từ sau khoa thi Đình cuối cùng (vào năm 1919), các tiến sĩ tân khoa bắt đầu ra trường tại Hà Nội năm 1935 (nhưng trước đó 8 năm, nghĩa là sau 8 năm không có tiến sĩ kể từ khoa thi Đình năm Kỷ Mùi, đã có các tiến sĩ do trường Y Hà Nội đào tạo nhưng lại phải sang Pháp thi). Khi đó, mới chỉ có trường Y Hà Nội có khả năng cấp học vị này. Cũng lần đầu tiên, bệnh tật của nhân dân Việt Nam được nghiên cứu và trình bày một cách khoa học trong các luận án tốt nghiệp (dù thời gian đầu phải bảo vệ tại Paris nhưng tất cả các luận án đều lấy đề tài từ thực tế Việt Nam). Tóm lại, chỉ sau 8 năm gián đoạn, các tiến sĩ tân khoa lại tiếp tục ra trường, kế tục sự nghiệp của giáo dục Hán học. Ngày đó, lễ bảo vệ luận án và tốt nghiệp được tiến hành rất long trọng. Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết, tốt nghiệp 1938, kể lại (cụ mới mất cách đây vài năm), các bác sĩ tân khoa và giáo sư trường Y đều đội mũ có 4 giải và mặc áo thụng đen. Về sau, những người theo kháng chiến được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cấp bằng tốt nghiệp, một số sau này bảo vệ tại trường Y trong Hà Nội tạm chiếm. Như vậy, nếu tính cả số y sĩ Đông Dương và số bảo vệ luận án ở Pháp, trường Y Đông Dương đã đào tạo ít nhất 483 người (chưa tính số y sĩ Đông Dương 4 năm sau cùng và số nội trú chưa kịp bảo vệ luận án), một con số thật ít ỏi so với nhu cầu (1 thầy thuốc cho hơn 50.000 dân) nhưng không thể trách trường Y Đông Dương. Sự phát triển giáo dục chậm chạp của thời đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trong nhất là chủ nghĩa thực dân không phát triển mạnh giáo dục và trình độ kinh tế thấp kém của đất nước ta dưới ách thực dân, có tới trên 90 phần trăm dân số mù chữ. Tuy nhiên để bù lại, và đây là công của trường Y Đông Dương, các bác sĩ ra trường, nhất là bác sĩ nội trú, có trình độ chuyên môn và phương pháp luận khoa học rất vững vàng, là tiền đề để sau này tự lực phát triển sau khi đã giành được độc lập. Năm 1932, Viện Giải phẫu thuộc trường được thành lập tại địa điểm ngày nay ở phố Tăng Bạt Hổ, khi đó do bác sĩ P.Huard làm Viện trưởng kiêm chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu. Cũng năm đó, thầy Đỗ Xuân Hợp (tốt nghiệp y sĩ Đông Dương năm 1929), được ông lấy trúng tuyển trong kỳ thi chọn trợ lý giải phẫu và được nhận về đây làm việc. Năm đó thầy Hợp mới 26 tuổi. Viện này là một cơ sở trực thuộc trường, có một gian triển lãm cổ sinh vật học rất đẹp. Huard đã cùng các cộng sự (chủ yếu là Đỗ Xuân Hợp) xuất bản 9 tập Công trình của Viện Giải phẫu thuộc trường Đại học hỗn hợp Y Dược khoa Hà Nội (Travaux de l' Institut anatomique de la Faculté mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, 9 tomes, de 1936 à 1944). Ngoài ra, ông còn là thành viên trường Viễn Đông Bác Cổ. Ông đã góp phần đào tạo nhiều nhà giải phẫu và ngoại khoa lớp trước của ta như Đỗ Xuân Hợp, Tôn Thất Tùng, Đinh Văn Thắng, Nguyễn Hữu, Phạm Biểu Tâm, v.v... Bác sĩ Huard xuất thân từ trường Quân Y bên Pháp và đã giảng dạy ở đó. ở ông có sự thẳng thắn của một quân nhân và một nhà khoa học. Năm 1947, nghe tin ngoài kháng chiến có mở kỳ thi tốt nghiệp bác sĩ Y khoa, ông đã nhắn tin chúc mừng. Có một dịp đi nhận thương binh, ông đã gửi tặng bác sĩ Tôn Thất Tùng một cây thuốc lá Cotab, một số thuốc DDT đang được ưa dùng thời đó và đề nghị thầy Tùng có yêu cầu gì về sách vở sẽ hết sức giúp đỡ. Viện Giải Phẫu là một cơ sở trực thuộc trường cũng xuất bản được tập kỷ yếu riêng (9 tập như trên đã nói) và có một gian triển lãm cổ sinh vật học rất đẹp. Cũng năm 1932, thầy Đỗ Xuân Hợp, đã tốt nghiệp y sĩ Đông Dương năm 1929, trúng tuyển kỳ thi chọn trợ lý giải phẫu 18và được nhận về đây làm việc. Năm đó thầy Hợp mới 26 tuổi.
Những ông thầy người Pháp của thời kỳ này, có lẽ chỉ trừ một số rất nhỏ, đều sang giảng dạy với tinh thần truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh, đúng theo lời thề Hippocrate. thầy Henri Coppin được học sinh quí mến vì rất giỏi lâm sàng (theo GS. Trịnh Ngọc Phan), tiếc rằng thầy qua đời sớm (1929). thầy Naudin, một cựu bác sĩ hải quân là người rất thương học sinh và thông cảm với bệnh nhân. Bác sĩ Lê Văn Khải kể lại: "Thời đó tình trạng thiếu giường nằm trong bệnh viện chưa trầm trọng lắm nên chúng tôi dễ dãi thu nhận cả những người chỉ có bệnh đói và rét. Giáo sư Naudin không phản đối, chỉ nhắc câu "Một người bề ngoài khoẻ mạnh là người có bệnh mà không biết" và ông bắt sinh viên xem lại, thế nào ông cũng tìm ra một bệnh, dù rất nhẹ, như ghẻ, giun, thiếu máu... để người ấy được nằm và ăm miễn phí một số bữa. Giáo sư Naudin ưa cho thuốc dạng bào chế" (ngày ấy, các dung dịch để uống thường không thành công thức bào chế sẵn như ngày nay nên thầy thuốc thường kê đơn 5-7 vị thuốc để phòng bào chế pha cho bệnh nhân dùng, giống như kê thang đông y). Chắc chắn nhiều bác sĩ trẻ ngày nay không biết trong "Si rô ho Bổ Phế" có những vị gì, liều lượng bao nhiêu. Dạng bào chế sẵn (officinal) thật tiện lợi, đỡ phải nhớ nhiều ! Các thầy người Pháp tuy không phải là những nhà khoa học xuất sắc nhưng họ đã thành công trong việc đào tạo một thế hệ bác sĩ Việt Nam có đủ Đức, Tài để sau này duy trì được trường Y trong kháng chiến chống Pháp và phát triển lớn mạnh như ngày nay. Các giáo sư nhà trường đã xuất bản định kỳ được 9 tập Kỷ yếu công trình kể từ năm 1936, công bố các nghiên cứu của giáo sư và bác sĩ, dược sĩ trường Y Dược khoa Đông Dương. Rất đáng tiếc là những tập kỷ yếu của trường và của Viện Giải Phẫu hiện nay đều không còn được lưu trữ tại thư viện nhà trường. Điểm qua vài ông thầy người Pháp. Giáo sư Le Roy des Barres, hiệu trưởng trường Y (thời kỳ 1929-1935) chuyên về sản khoa và mổ rất giỏi. Những bệnh nặng không có khả năng chuyển về Pháp đều phải qua tay thầy vì vậy thầy được hầu hết các vị tai to mặt lớn kính nể. Ông chỉ có tật hay gắt nên sinh viên rất ngại phụ cho ông và chỉ có bà vợ ông (người Việt) là một nữ hộ sinh làm được việc đó. Bà biết trước những dụng cụ ông sắp cần để đưa đúng lúc và nếu ông gắt thì bà gắt lại, thậm chí đá chân qua gầm bàn vào cẳng chân ông là ông dịu ngay (Lê Văn Khải, sách đã dẫn) Giáo sư Lucas Championnère rất giỏi ngoại khoa, gia đình có 3 đời đều là thầy thuốc danh tiếng. Ông là người điềm đạm, rất quí mến sinh viên. Ông khám bệnh rất kỹ nên chẩn đoán rất chính xác và vừa mổ, ông vừa giải thích cặn kẽ cho sinh viên phụ mổ. Giáo sư Lucas Championnère đã mất tại Hà Nội trong sự tiếc thương của sinh viên khiến chính người Pháp phải ngạc nhiên. Sau giáo sư Lucas Championnère, có giáo sư Cartoux (người cùng sang Đông Dương một lượt với các giáo sư Hồ Đắc Di và Huard) làm ngoại khoa kiêm giảng dạy môn giải phẫu. Ông rất biết ăn diện, là người đầu tiên ở Hà Nội có chiếc xe hơi kiểu thể thao và là người rất lịch sự. Ông mổ tay trái rất khéo và tận tình hướng dẫn cho sinh viên trong lúc mổ. Các giáo sư lớp sau 1930, ngoài Huard (có công đào tạo y sỹ Đông Dương Đỗ Xuân Hợp) và Cartoux, còn có Meyer May (một người gốc Do thái, theo phe kháng chiến De Gaulle, sau năm 1946 ông sang Mỹ sinh sống), là người có công lớn đào tạo bác sĩ Tôn Thất Tùng; Gs Daléas (Sản Phụ Khoa) có công đào tạo bác sĩ Đinh Văn Thắng, rồi GS Montagné, Sollier và nhiều người khác cũng thuộc lớp này. Người Pháp rất trọng bằng cấp nên nhiều cán bộ giảng dạy thời đó đã phải về Pháp thi thạc sĩ (như nội khoa có Massias, ngoại có Mayer May, sản có Daléas, nhi có Blondel, giải phẫu có Huard...). Tuy nhiên cũng còn nhiều giáo sư khác không có bằng thạc sĩ như Toullec dạy môn Bệnh học nhiệt đới, Cartoux dạy Phụ sản, Polidori dạy nhi, Naudin dạy nội, Grenierboley dạy da liễu, Joyeux dạy mô học, Keller dạy Mắt, Sollier dạy Tai mũi họng. Giáo sư Sollier là người rất đặc biệt. Ông có tính “ăn to nói lớn”, luôn gắt gỏng với mọi người, thậm chí khi vợ ông tới khám cũng bị ông gắt gỏng như với những bệnh nhân khác. Thật ra, tuy ông gắt đấy nhưng nếu sinh viên bỏ không đến thì ông lại tìm họ xin lỗi vì tật nóng tính của mình và vui vẻ mời quay lại. Ông có bà vợ rất hiền, sinh cho ông sáu con toàn gái. Mỗi lần thấy ông bà và đàn con đi phố hay đi lễ nhà thờ, người Việt Nam nào cũng phải ngắm nhìn vì hiếm có người Pháp nào đông con như vậy. Ông đã có công đào tạo các bác sỹ tai mũi họng lớp đầu của ta như bác sĩ Vũ Hữu Hiếu bên quân Y (đã mất), giáo sư Võ Tấn, v.v. Giáo sư hiệu trưởng Henri Galliard sau này khi đã về Pháp đã tiếp tục đỡ đầu nhiều sinh viên Việt Nam du học bên đó. Ông vẫn giữ nguyên cảm tình với Việt Nam tuy từ 1946 đã thôi dạy học trường Đông Dương. Các thầy người Pháp không làm tư, nhưng sắn sàng khám giúp người nhà sinh viên. Thỉnh thoảng, do bệnh viện Saint Paul mời (từ sau 1935 mới có bệnh viện này, do các bà sơ đảm nhiệm) thì mới sang mổ. Các thầy người Pháp tuy không phải là những nhà khoa học xuất sắc nhưng họ đã thành công trong việc đào tạo mọt thế hệ bác sĩ Việt Nam có đủ Đức, Tài để sau này duy trì được Trường Y trong kháng chiến chống Pháp và phát triển lớn mạnh như ngày nay. Các giáo sư nhà trường đã xuất bản định kỳ được 9 tập Kỷ yếu công trình kể từ năm 1936, công bố các nghiên cứu của giáo sư và bác sĩ, dược sĩ trường Y Dược Đông Dương. Rất tiếc là những tập kỷ yếu của trường và của Viện Giải Phẫu hiện nay đều không còn được lưu trữ tại thư viện nhà trường. Từ 1935, việc bảo vệ luận án được tiến hành ngay tại trường Y Đông Dương, lúc đầu do các giáo sư từ Pháp sang chủ trì. Năm đầu tiên bảo vệ luận án tại Hà nội có 12 bác sĩ là: 1. Lê Văn Cẩn: Góp phần nghiên cứu các trường hợp gãy xương cánh tay 2. Huỳnh Công Chiêu: Góp phần vào việc điều trị bệnh lách do sốt rét bằng liệu pháp phủ tạng lách 3. Huỳnh Tấn Đối: Góp phần nghiên cứu các hội chứng bụng cấp trong bệnh giun đũa 4. Nguyễn Trọng Hiệp: Nghiên cứu về hậu quả ngoại khoa các bệnh lỵ và viêm đại tràng nhiệt đới 5. Nguyễn Đình Hoàng: Góp phần nghiên cứu các trường hợp gãy mỏm ngang đơn độc cột sống thắt lưng 6. Hoàng Gia Hợp: Gây mê tĩnh mạch bằng Numal 7. Trương Hồ Ly: Điều trị ngoại khoa cácviêm đại tràng mạn tính bằng tạo lỗ dò, đặc biệt là mở ruột thừa 8. Nguyễn Xuân Nguyên: Góp phần nghiên cứu bệnh do Pseudomonas pseudomallei ở Đông Dương 9. Phạm Văn Phán: Góp phần nghiên cứu bệnh sốt rét bẩm sinh 10. Lê Đình Quý: Góp phần nghiên cứu phẫu thuật cắt tử cung qua đường âm đạo 11. Võ Duy Thạch: Góp phần nghiên cứu bệnh sinh của phù trong chứng tê phù (béri béri) 12. Dương Tấn Tươi: Công cuộc chống bệnh sốt rét ở Tuyên Quang. Từ khi Đông Dương bị ngăn cách với chính quốc do chiến tranh thế giới thứ 2, các giáo sư nhà trường tự đảm nhiệm việc chủ trì luận án, và cuối cùng, từ Vichy, sắc lệnh ngày 15 tháng Mười 1941 của thống chế Pétain, quốc trưởng Pháp, đã nâng cấp trường Y Dược toàn cấp Đông Dương thành trường Đại học hỗn hợp Y Dược khoa Đông Dương, hoàn thiện bước cuối cùng trong việc xây dựng trường Y Dược Đông Dương (chính quyền Đông Dương thời đó theo chính phủ Vichy và chống lại phe kháng chiến De Gaulle) Từ khoảng năm 1940 trở đi, trưởng các khoa lâm sàng tại bệnh viện và phần lớn các khoa cận lâm sàng đều do cán bộ Việt Nam đảm nhiệm. Các bậc đàn anh có cụ Vũ Đình Tụng và cụ Trần Văn Lai là hai bác sĩ thường trú tại bệnh viện Bảo hộ để hướng dẫn sinh viên thực tập. Bác sĩ thường trú cuối cùng là cụ Hồ Đắc Di (theo hồi ký giáo sư Vũ Công Hoè). KHUNG CÁN BỘ CỦA TRƯỜNG ĐÔNG DƯƠNG TRONG THỜI KỲ ĐẦY ĐỦ NHẤT (1943) Hiệu trưởng:H. GALLIARD, giáo sư trường Đại học Y khoa Paris Giáo sư chính thức: Daléas, Huard, Cousin, Sollier, Grenierboley, Blondel, Rivoalen, Joyeux, Montagné, Bonnet Trợ lý lâm sàng: CARTOUX, Hồ Đắc Di (hai vị này được phong giáo sư ngày 11.12.1943).
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét